TẠI SAO NHẬT BẢN SỬ DỤNG CHỮ HÁN CÒN VIỆT NAM VÀ...

TẠI SAO NHẬT BẢN SỬ DỤNG CHỮ HÁN CÒN VIỆT NAM VÀ HÀN QUỐC THÌ LẠI KHÔNG?

0
CHIA SẺ

Chữ Hán là một dạng chữ viết biểu ý của tiếng Trung Quốc dựa trên việc quan sát đồ vật xung quanh và vẽ thành dạng chữ tượng hình mang ý nghĩa.Chính vì thế mỗi chữ Hán giống như một bức tranh thú vị và cần suy ngẫm,là thứ chữ đầu tiên trên thế giới được nâng lên tầm thư pháp!

a      (Thư pháp viết bằng chữ Hán tại Văn Miếu Quốc Tử Giám)

Được du nhập vào các nước lân cận trong vùng như Triều Tiên(phân chia thành Triều Tiên và Hàn Quốc ngày nay), Nhật Bản, Việt Nam tại các quốc gia này chữ Hán được vay mượn để tạo nên ngôn ngữ riêng của dân bản địa ở từng nước. 

Tiếng Triều Tiên là ngôn ngữ chính thống của 2 miền Bắc Triều Tiên và Nam Triều Tiên là Hàn Quốc ngày nay. Tiếng Hán được du nhập vào bán đảo Triều Tiên từ thời kỳ đồ đá, các văn bản viết tay bằng tiếng Hán được xác định là xuất hiện vào khoảng thế kỷ thứ 4 công nguyên, sau đó học giả tại nước này đã cải biến chữ Hán để sao cho phù hợp với họ. Sau này, vào khoảng thế kỷ 15 Triều Tiên xuất hiện chữ ký âm được gọi là Hangul hay còn gọi là Chosongul,vì sự tiện lợi và phù hợp với ngôn ngữ nên cho đến ngày nay ký âm Chosongul được chính thức sử dụng để thay cho chữ Hán.

b

Còn đối với tiếng Việt, Chữ Hán du nhập vào Việt Nam theo con đường giao lưu văn hóa bắt đầu từ thiên niên kỷ thứ nhất trước công nguyên. Ðến thế ký VII – XI chữ Hán và tiếng Hán được sử dụng ngày càng rộng rãi ở Việt Nam. Thời kỳ này tiếng Hán được sử dụng như một phương tiện giao tiếp, giao lưu kinh tế thương mại với Trung Quốc. Do Việt Nam bị ách đô hộ của phong kiến phương Bắc trong khoảng thời gian hơn một ngàn năm, vì vậy hầu hết các bài văn khắc trên tấm bia đều bằng chữ Hán. Dù chữ Hán có sức sống mạnh mẽ đến đâu chăng nữa, một văn tự ngoại lai không thể nào đáp ứng, thậm chí bất lực trước đòi hỏi, yêu cầu của việc trực tiếp ghi chép hoặc diễn đạt lời ăn tiếng nói cùng tâm tư, suy nghĩ và tình cảm của bản thân người Việt. Chính vì vậy chữ Nôm đã ra đời để bù đắp vào chỗ mà chữ Hán không đáp ứng nổi. Tuy nhiên chữ nôm được tạo ra bằng cách ghép 1 số chữ hán lại nên quá khó nhớ,khó viết,vì biết 1 chữ Nôm cần phải biết tới 2, 3 chữ hán,dần dần chữ quốc ngữ được sáng tạo bởi chữ la tinh đã thay thế hoàn toàn chữ hán,chữ Nôm trước đây.

c

Hán tự truyền sang Nhật vào khoảng đầu thế kỷ thứ III. Tiếng Nhật ban đầu dùng chữ kanji để viết nhưng chữ kanji bộc lộ một số hạn chế, đó là trong khi tiếng Hán là tiếng đơn âm thì tiếng Nhật là ngôn ngữ chắp vá phải ghép vài âm tiết mới thành một từ, và từ này khi chia quá khứ, hiện tại, tương lai thì lại khác nhau. Do đó họ phải thêm vào chữ Hiragana để tiện việc chia như vậy. Tiếng Nhật sử dụng kết hợp chữ kanji để ghi ý nghĩa và chữ Hiragana để thực hiện chức năng ngữ pháp, ví dụ với từ “ăn” sẽ có các từ sau:

食べる:Ăn

食べた:Đã ăn

食べて:Hãy ăn (sai khiến)/ 

食べている:Đang ăn

食べられる:Bị ăn

食べさせる:Bắt ăn / Cho ăn

食べさせられる:Bị bắt ăn

Bằng cách sử dụng chữ Kanji và Hiragana như trên hệ thống chữ viết tiếng Nhật vừa đơn giản, vừa dễ hiểu mà vẫn thực hiện đầy đủ chức năng ngôn ngữ của nó.

Câu hỏi đặt ra là tại sao không sử dụng toàn bộ là chữ Hiragana cho đơn giản và đỡ phải học chữ kanji?

Lý do khá đơn giản: (1) Dùng chữ kanji giúp việc đọc hiểu trở nên cực kỳ dễ dàng, (2) Chữ Hiragana không sẽ khó đọc vì không biết từ bắt đầu và kết thúc ở đâu, (3) Chữ kanji không hề khó học.

Các bạn hãy xem 2 câu sau:

ははははなをかった。
たかがはらはなかがわらえきでさんぽしていた。
Việc phân biệt từ nào với từ nào cũng đã là việc khá khó khăn và mất thời gian. Nếu sử dụng kanji thì mọi việc trở nên đơn giản hơn rất nhiều:

母は花を買った。
高河原は中河原駅で散歩していた。

Và chính vì sự tiện dụng ,phù hợp của nó,nên chữ Hán đã được giữ lại sử dụng cho tới ngày nay. Ngoài ra người Nhật sáng tạo thêm chữ Katakana dùng để phiên âm tiếng nước ngoài.

Đây chính là một bản sơ lược tóm tắt về quá trình hình thành phát triển và lưu hành của chữ Hán với Việt Nam,Nhật Bản cũng như Hàn Quốc,để chúng ta có thêm hình dung, sự thích thú và đến với 1 thể loại chữ thú vị nhất hành tinh!

 

BÌNH LUẬN